Quy định khi đăng bài viết tại đây.

1. Cách cộng trừ GH. =>

2. Muốn có GH để download tại liệu? => tại đây.

3. Đính kèm lên diễn đàn, hoặc Mediafire.com ... và những trang download free nhanh khác.

=> (Nghiêm cấm hình thức đăng bài viết spam, quảng cáo).

Hướng dẫn download những tài liệu bị lỗi. Chúc các bạn có phút giây vui vẻ khi tham gia diễn đàn.
  1. remember me

    Số bài viết: 215
    Được thích: 2
    Số GH:
    21 GH
    Quản lý lưu vực sông
    Lưu vực sông (River Basin hay Watershed)
    Thế nào là một lưu vực sông? Lưu vực sông (River Basin hay Watershed) có thể được hiểu là một vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông. Tại sao chúng ta phải quản lý lưu vực sông?
    1. Lợi ích của quản lý lưu vực sông:
    Các chương trình quản lý tổng hợp LVS có thể tác động toàn diện đến các mặt kinh tế, xã hội và đem lại nhiều lợi ích cho lưu vực như:

    Cấp nước: Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cả ba nguồn nước (nước mưa, nước mặt và nước ngầm) ở LVS đều được khai thác sử dụng.

    Chất lượng nước: Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng nước bao gồm địa chất, đất, địa hình, thảm thực vật, quần thể động thực vật hoang dã và khí hậu. Nhưng yếu tố quan trọng hơn gây ra các vấn đề về chất lượng nước chính là các hoạt động của con người và vấn đề sử dụng đất trong lưu vực. Quản lý LVS sẽ phải kiểm soát chặt chẽ các yếu tố này.

    Kiểm soát lũ: Việc cấp nước đồng thời đảm bảo chống lũ có thể là lý do quan trọng nhất của các nỗ lực quản lý LVS. Cách tiếp cận quản lý tổng hợp LVS quan tâm đến các vùng đầu nguồn và bảo vệ các vùng đất ngập nước.
    Kiểm soát bồi lắng: Sự bồi lắng có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước, sinh cảnh, giao thông thuỷ, kiểm soát lũ và các dịch vụ du lịch, giải trí. Nó còn ảnh hưởng đến các loài cá do bùn lắng trên lòng sông - nơi cần thiết cho chúng đẻ trứng, và che phủ các sinh vật đáy quan trọng trong chuỗi thức ăn.

    Giao thông thuỷ: Các hoạt động giao thông thuỷ và dịch vụ cảng thường gây ô nhiễm môi trường nước do việc xả dầu cặn và các chất thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng cũng như chất thải sinh hoạt. Ngoài ra, vấn đề quan trọng nhất về mặt môi trường với các hoạt động giao thông thuỷ là sự cố tràn dầu.

    Phát triển kinh tế với các công trình thuỷ điện-thuỷ lợi: Có thể thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bằng việc quản lý LVS. Ở Việt Nam ngay từ những năm 80, Nhà nước đã đầu tư kinh phí xây dựng các hồ chứa để tích nước trong mùa mưa lũ và xả nước trong mùa kiệt kết hợp với phát điện, điều tiết lưu lượng dòng chảy ở hạ lưu và đẩy lùi ranh giới nhiễm mặn, đảm bảo nhu cầu cấp nước, nuôi cá, cải tạo môi trường.

    Đa dạng sinh học: LVS, đặc biệt là những nơi cư trú ven sông là nơi cư trú cần thiết và đa dạng cho nhiều quá trình và nhiều loài sinh vật, đây còn là nơi cung cấp mối liên kết giữa hệ sinh thái thuỷ sinh với hệ sinh thái vùng cao. Chẳng hạn như, thảm thực vật ven sông sẽ kiểm soát nhiều cơ chế môi trường của hệ sinh thái sông, và đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định lưu lượng, điều chỉnh dòng chảy cũng như nhiệt độ sông. Các vùng đất ngập nước cũng đóng vai trò quan trọng tương tự trong việc duy trì đa dạng sinh học và các quá trình trong LVS. Quản lý LVS có thể là công cụ được sử dụng để làm tăng số lượng động thực vật hoang dã, một nhân tố của sự đa dạng sinh thái. Mặc dù không phải là thích hợp với mọi trường hợp nhưng việc lập kế hoạch quản lý LVS có thể bao gồm những nỗ lực tránh sự suy thoái nơi cư trú của các loài động thực vật hoang dã nguy cấp.

    Cá và các sinh vật thuỷ sinh khác: cần có các hoạt động quản lý LVS để làm giảm các ảnh hưởng và cải thiện, bảo tồn loài cá cũng như các sinh vật thuỷ sinh khác.

    Bảo tồn sinh cảnh: các LVS khi được bảo vệ tốt sẽ phục vụ cho nhiều mục đích như giải trí, bảo vệ sinh cảnh hoang dã, lọc nước và lưu giữ nước.

    Giải trí-du lịch: Nước cấp cho các hoạt động giải trí-du lịch có thể được tăng cường bằng việc quản lý LVS. Chẳng hạn như, các hoạt động quản lý LVS ở phía hạ lưu sẽ giúp đảm bảo cấp nước đầy đủ và bảo vệ chất lượng nước, ngoài ra còn có thể đem lại lợi ích cho các hồ chứa, làm tăng giá trị của chúng đối với các hoạt động giải trí như bơi thuyền và câu cá.

    2. Quản lý thống nhất và tổng hợp lưu vực sông

    Có nhiều cách định nghĩa về quản lý LVS, nhưng có thể hiểu đây là một khái niệm rộng gắn với các kế hoạch, chính sách và hoạt động nhằm kiểm soát nguồn nước, tài nguyên và môi trường cũng như các quá trình liên quan trong một lưu vực nhất định. Quy mô của việc quản lý LVS tuỳ thuộc vào các điều kiện tài nguyên, địa lý và hành chính.

    Mặc dù nhiều nước trên thế giới đã sử dụng cách tiếp cận này, song cách hiểu và áp dụng tại mỗi nước có nhiều điểm khác nhau. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có một số điểm chung là:

    - Nhằm mục đích hài hoà các mục tiêu của các cơ quan địa phương và trung ương trong lưu vực, giúp họ có được chiến lược quản lý hợp lý.

    - Quá trình ra quyết định thường cố gắng bao hàm đầy đủ các lĩnh vực liên quan và sử dụng kỹ năng "tìm tiếng nói chung" để xây dựng được kế hoạch đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan.

    - Sử dụng thông tin khoa học và logic để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ sinh thái thuỷ sinh, hệ sinh thái trên cạn, sức khoẻ con người, và các điều kiện kinh tế trong lưu vực.

    - Sử dụng các biện pháp tài chính phù hợp để chi phí được phân bổ cho các dự án tương ứng với lợi ích thu được của chúng.

    - Cố gắng tạo ra khung thoả thuận liên ngành nhằm đảm bảo các kế hoạch sẽ được thực hiện dựa vào cách tiếp cận và mong muốn của các bên liên quan chứ không phải dựa vào các luật lệ hay quy định.

    - Xây dựng các biện pháp và tiêu chuẩn rõ ràng để kiểm tra và đánh giá hiệu quả của việc quản lý LVS.

    Nhìn chung, cách tiếp cận quản lý môi trường LVS này bao gồm 3 nét chính. Thứ nhất là sự phát hiện vấn đề, phát hiện các mối đe doạ tiềm ẩn đối với sức khoẻ con người và hệ sinh thái trong lưu vực. Thứ hai là sự tham gia của các bên liên quan, đòi hỏi mọi người phải có sự quan tâm thích đáng hoặc thích hợp nhất. Thứ ba là sự phối hợp hành động, đó là các nỗ lực được thực hiện một cách tổng hợp và toàn diện một khi các giải pháp đã được quyết định.

    3. Những rào cản và khó khăn trong quản lý lưu vực sông

    Trong những năm gần đây, mặc dù những lợi ích của việc xây dựng kế hoạch tổng hợp quản lý LVS là rất lớn và được xây dựng trên nền tảng kỹ thuật tốt, nhưng việc thực hiện lại gặp rất nhiều khó khăn. Đó là:

    - Việc lập kế hoạch quản lý LVS thường được tiến hành theo quá trình tĩnh và thường được công thức hoá về mục tiêu cũng như lộ trình thực hiện. Điều này khó nhận được sự đồng tình và chấp nhận của các đối tượng khác nhau vì mục tiêu của họ cũng rất khác nhau.

    - Ranh giới LVS thường không trùng với ranh giới hành chính, do vậy khó khăn cho việc thiết lập quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến LVS.

    - Các mô hình cở sở để xây dựng kế hoạch thường dựa trên các cơ sở dữ liệu yếu do vậy độ chính xác và tin cậy không cao.

    - Về thực chất, việc lập kế hoạch quản lý LVS là công việc rất phức tạp, nhất là khi tính đến những tác động về môi trường.

    - Quá trình lập kế hoạch thường chậm và mất rất nhiều thời gian để nó có thể thực sự được tiến hành.

    Tuy vậy, bất cứ chương trình quản lý LVS nào cũng đều cần tính đến và phải vượt qua những trở ngại trên.
    Một số hình ảnh tham khảo:
    [IMG]

    [IMG]

    [IMG]

    [IMG]
    (Theo tvmt.wru.edu.vn)
  2. sunrise198x


    Số bài viết: 24
    Được Thích: 1
    Số GH:
    0 GH
    Ðề: Quản lý lưu vực sông

    Bạn có tài liệu nào nói về các trạm quan trắc trên các lưu vực sông của nước ta k0.
  3. ba_minhchau


    Số bài viết: 3
    Được Thích: 0
    Nơi ở: Đà Nẵng-Việt Nam
    Số GH:
    0 GH
    Ðề: Quản lý lưu vực sông

    Mạng lưới quan trắc môi trường nước trên lưu vực sông Hương:
    Thành phố Huế là nơi có Di dản Văn hóa thế giới và cũng là vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra các sự cố và tai biến môi trường... Mặt khác, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự bùng nổ dân số trong những năm gần đây đã làm cho môi trường ở thành phố Huế biến chuyển theo chiều hướng xấu đi rất nhiều. Đặc biệt là môi trường nước mặt, mà trong đó đáng chú ý nhất là lưu vực sông Hương - nơi cung cấp chủ yếu nguồn nước sinh hoạt, sản xuất cho thành phố Huế và các vùng phụ cận.

    Lưu vực sông Hương có diện tích 2.713km2, chiếm 54% diện tích toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, có độ dốc bình quân lòng sông 11,7m/km, lưu lượng nước trung bình 179m3/s tương ứng với tổng lượng dòng chảy 5,64 tỷ m3/năm và xâm thực hàng năm 180 tấn/km, là sông lớn nhất và có tác dụng quan trọng trong đời sống, kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Hệ thống lưu vực sông Hương gồm 3 nhánh chính là: Sông Bồ, Tả Trạch và Hữu Trạch.

    Được đầu tư xây dựng và cung cấp trang thiết bị từ năm 2001, đến nay Trạm Quan trắc và Phân tích môi trường (QT&PT) thành phố Huế thuộc Trung tâm Tài nguyên, Môi trường và Công nghệ Sinh học - Đại học Huế đã từng bước ổn định và đi vào hoạt động có hiệu quả. Để phục vụ tốt hơn trong công tác đánh giá chất lượng môi trường và từng bước hòa vào mạng lưới quan trắc quốc gia, Cục Bảo vệ môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo và giao nhiệm vụ hàng năm (bắt đầu từ năm 2003) cho Trạm QT&PT môi trường thành phố Huế thực hiện việc xây dựng mạng lưới các điểm quan trắc và tiến hành quan trắc môi trường nước sông Hương - Thành phố Huế với nguyên tắc thỏa mãn tính hệ thống, đại diện và khả thi.

    Về nguyên tắc, khi tiến hành QT&PT chất lượng nước sông thì cần phải thực hiện ở nhiều điểm, từ thượng nguồn cho đến hạ lưu, các điểm trên mạng lưới càng dày thì số liệu càng có sức thuyết phục, có như vậy mới có thể so sánh một cách hệ thống, từ đó có cơ sở vững chắc để dự báo tính chất, động thái biến động của chất lượng môi trường nước trên lưu vực sông Hương.

    Xuất phát từ nguyên tắc trên, mạng lưới các điểm quan trắc môi trường nước trên lưu vực sông Hương được nghiên cứu lựa chọn và phân bố như sau:

    Điểm 1: Nhánh sông Tả Trạch

    Điểm 2: Nhánh sông Hữu Trạch

    Hai điểm này ở thượng nguồn của lưu vực sông Hương, môi trường nước ở hai nhánh sông này chưa bị tác động của các yếu tố ô nhiễm do con người gây ra. Đây được xem là điểm nền của môi trường nước sông Hương.

    Điểm 3: Ở ngã ba Tuần, điểm này là sự hòa nhập của hai nhánh Tả Trạch và Hữu Trạch vào sông Hương trước khi chảy qua thành phố Huế.

    Điểm 4: Nơi phân thành nhánh sông Xước Dũ (trước khi qua Nhà máy xi măng Long Thọ), khu vực này nhận nước thải sinh hoạt của bộ phận dân sống ven hai bên bờ sông và các chất thải từ hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp của người dân.

    Điểm 5: Ngay chợ Đông Ba và khách sạn Century, khu vực này là nơi tiếp nhận chất thải trực tiếp từ chợ, từ các hoạt động du lịch, dịch vụ. Đồng thời đây cũng là nơi nhận nước thải của Bệnh viện Trung ương Huế và nước thải sinh hoạt của người dân.

    Điểm 6: Ở nhánh sông Đông Ba, nước sông ở đây chịu ảnh hưởng đáng kể của các chất thải từ chợ và nước thải sinh hoạt của người dân, đặc biệt là mọi chất thải của các cư dân vạn đò đều được thải trực tiếp ra đây.

    Điểm 7: Ở đập La Ỷ, là khu vực tiếp nhận các chất thải của các hoạt động công nghiệp, tiêu điểm là hai nhà máy lớn: Nhà máy bia Huda và công ty Hải sản Sông Hương. Ngoài ra, đây cũng là nơi bị ảnh hưởng từ các chất thải sinh hoạt khá rõ.

    Điểm 8: Ở ngã ba Sình, vị trí này là nơi giao nhau của sông Hương và sông Bồ trước khi chảy ra biển. Khu vực này là nơi tiếp nhận chủ yếu các loại chất thải từ các hoạt động sản xuất nông, ngư nghiệp của người dân.

    Điểm 9: Ở đập Thảo Long, là đập để ngăn mặn từ biển ăn sâu vào đất liền trong mùa hè. Đây là nơi tiếp giáp với cửa biển và là nơi giao tiếp của tất cả các cửa sông trên lưu vực sông Hương trước khi đổ ra biển.

    Tất cả những điểm trên là đại diện cho các vùng có đầy đủ các hoạt động sản xuất công, nông, lâm, ngư nghiệp và các hoạt động du lịch, dịch vụ, sinh hoạt...

    Qua 2 năm (2003 và 2004) tiến hành quan trắc với tần suất 1 đợt/tháng ở các điểm thuộc mạng lưới đă được nghiên cứu lựa chọn trên, chúng tôi đã cung cấp cho các cơ quan quản lý môi trường các số liệu về chất lượng nước sông Hương với 15 thông số đánh giá bao gồm: Nhiệt độ, pH, DO, EC, độ đục, SS, TDS, BOD5, COD, N-NH4+, N-NO3-, P-PO43-, Cl-, Fe tổng, tổng Coliform. Trong năm 2005, trạm đã và đang tiếp tục nhiệm vụ trên nhằm cung cấp những số liệu chính xác và đầy đủ về chất lượng môi trường nước sông Hương phục vụ xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia.

    Với chuỗi số liệu có được qua một thời gian quan trắc, có thể nói môi trường nước trên lưu vực sông Hương đang đứng trước những thách thức to lớn. Việc đưa vào khai thác, sử dụng mạng lưới QT&PT môi trường trên địa bàn lưu vực sông Hương là sự cố gắng, nỗ lực của tập thể cán bộ Trung tâm Tài nguyên, Môi trường và Công nghệ Sinh học - Đại học Huế. Mạng lưới quan trắc đã theo dõi được các diễn biến môi trường, tạo cơ sở phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà theo hướng phát triển bền vững. Thiết nghĩ đây là hoạt động cần được các cấp, các ngành quan tâm xây dựng, phát triển và sớm được hòa chung vào mạng lưới quan trắc quốc gia.
    (theo Lê Văn Thăng, Nguyễn Đình Huy, Trung tâm TNMT&CNSH - Đại học Huế)
  4. aploen


    Số bài viết: 2
    Được Thích: 0
    Số GH:
    0 GH
    Ðề: Quản lý lưu vực sông

    Bạn có thể tham khảo quyết định số 16/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên và môi trường đến năm 2020. Trong đó có đưa ra các trạm cần xây mới và các trạm cần nâng cấp. Bạn tìm văn bản này trên internet rất dễ
3,801
Xem